EBITDA chi phí lãi vay thuần có bao gồm phần lãi vay vượt mức khống chế?

Câu hỏi: Khi tính EBITDA để xác định giới hạn chi phí lãi vay được trừ theo quy định về giao dịch liên kết, thì “chi phí lãi vay thuần” có bao gồm cả phần lãi vay không được trừ theo quy định thuế thu nhập doanh nghiệp hay không?

Trả lời: 

Trong thực tế tư vấn và thanh tra thuế, một trong những nội dung khiến kế toán sai sót nhiều nhất khi doanh nghiệp có giao dịch liên kết chính là cách xác định giới hạn chi phí lãi vay theo tỷ lệ 30% EBITDA. Không ít trường hợp nhầm lẫn giữa số liệu kế toán và số liệu thuế, hoặc tự ý loại trừ các khoản lãi vay trước khi tính EBITDA, dẫn đến xác định sai chi phí được trừ và phát sinh rủi ro truy thu.

Vì thể, để trả trả lời chi tiết cho tình huống trên, chúng ta cùng tìm hiểu chia sẻ của thầy Nguyễn Ngọc Minh – Chuyên gia hàng đầu về Thuế ở bài viết này nhé.

Video trả lời trực tiếp từ thầy Nguyễn Ngọc Minh:

Theo thầy Nguyễn Ngọc Minh chia sẻ, khi tính EBITDA để làm căn cứ khống chế 30% chi phí lãi vay được trừ, toàn bộ số liệu sử dụng là số liệu kế toán, không phải số liệu đã điều chỉnh theo thuế. Điều này có nghĩa: lợi nhuận kế toán trước thuế, chi phí lãi vay và khấu hao dùng để tính EBITDA đều là số liệu ghi nhận theo chuẩn mực kế toán, chưa loại trừ các khoản không được trừ theo quy định thuế.

Ví dụ, doanh nghiệp có tổng chi phí lãi vay trong năm là 500 triệu đồng giao dịch liên kết. Trong đó, có 150 triệu là lãi vay tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu nên không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Theo quy định thuế, doanh nghiệp chỉ được tính 350 triệu vào chi phí được trừ. Tuy nhiên, khi tính EBITDA để xác định mức khống chế 30%, vẫn phải tính trên toàn bộ 500 triệu chi phí lãi vay theo số liệu kế toán, chứ không phải trên 350 triệu đã điều chỉnh theo thuế.

Lý do là vì bản chất của quy định khống chế 30% không nhằm điều chỉnh kỹ thuật tính thuế đơn thuần, mà nhằm đánh giá rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp vay quá nhiều so với vốn chủ sở hữu, điều đó phản ánh tình trạng “vốn mỏng” – tức doanh nghiệp đang hoạt động với mức đòn bẩy tài chính cao, tiềm ẩn rủi ro mất cân đối dòng tiền. Đây là vấn đề quản trị tài chính, vì vậy phải dựa trên số liệu kế toán – vốn phản ánh thực trạng hoạt động kinh doanh – chứ không thể căn cứ vào số liệu thuế đã qua điều chỉnh.

Thầy Minh cũng lưu ý thêm về thứ tự loại trừ chi phí lãi vay khi xác định chi phí được trừ theo thuế thu nhập doanh nghiệp. Trước hết, cần loại trừ phần lãi vay tương ứng với vốn điều lệ còn thiếu. Tiếp theo, loại trừ phần lãi vay vượt mức quy định (ví dụ lãi vay cá nhân vượt quá mức cho phép theo quy định hiện hành). Sau khi thực hiện các bước loại trừ này, mới tiếp tục áp dụng quy định khống chế 30% EBITDA.

Như vậy, nguyên tắc cần ghi nhớ là: EBITDA để tính giới hạn 30% luôn dựa trên số liệu kế toán; còn việc điều chỉnh các khoản lãi vay không được trừ là bước xử lý riêng theo quy định thuế thu nhập doanh nghiệp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *